Trồng rong biển trong ao nuôi tôm: Giải pháp sinh thái nâng cao chất lượng môi trường và gia tăng thêm 60 triệu đồng mỗi năm 

31 Th7 2026

Kết hợp trồng rong biển trên mặt ao nuôi tôm quảng canh đang trở thành mô hình sản xuất mang lại nhiều giá trị cho người nuôi. Rong biển có khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng dư thừa, góp phần ổn định chất lượng nước, giảm lượng chất hữu cơ tích tụ và tạo môi trường sống thuận lợi cho tôm phát triển. Nhờ đó, nguy cơ phát sinh dịch bệnh được hạn chế, sức khỏe tôm được cải thiện và hiệu quả nuôi được nâng cao. Không chỉ mang lại lợi ích về môi trường, rong biển còn tạo thêm nguồn thu nhập ổn định cho người nuôi khi có thể thu hoạch và tiêu thụ định kỳ, với giá trị khoảng 4–5 triệu đồng mỗi tháng, tương đương gần 60 triệu đồng mỗi năm. Việc tận dụng diện tích mặt ao để kết hợp sản xuất giúp nâng cao giá trị trên cùng một đơn vị diện tích mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động nuôi tôm.

Trong bối cảnh ngành thủy sản ngày càng hướng đến các mô hình nuôi an toàn, hiệu quả và giảm tác động đến môi trường, mô hình kết hợp nuôi tôm với trồng rong biển được đánh giá là giải pháp bền vững, góp phần gia tăng thu nhập, giảm chi phí xử lý môi trường và mở ra hướng phát triển phù hợp để nhân rộng tại nhiều vùng nuôi tôm quảng canh.

Trong bối cảnh ngành nuôi trồng thủy sản đang hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, việc áp dụng các mô hình sản xuất thân thiện với môi trường ngày càng được người nuôi và các nhà quản lý quan tâm. Đối với nuôi tôm quảng canh, một trong những giải pháp nổi bật hiện nay là kết hợp trồng rong biển trên mặt ao. Không chỉ góp phần cải thiện chất lượng môi trường nước thông qua việc hấp thụ các chất dinh dưỡng dư thừa và ổn định hệ sinh thái ao nuôi, rong biển còn tạo thêm nguồn thu nhập đáng kể cho người nuôi. Đây được xem là mô hình mang lại hiệu quả kép, vừa giảm chi phí quản lý môi trường, hạn chế nguy cơ dịch bệnh trên tôm, vừa nâng cao giá trị kinh tế trên cùng một diện tích sản xuất, mở ra hướng phát triển bền vững cho nghề nuôi tôm trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu ngày càng cao về sản xuất xanh.

Rong biển – “Bộ lọc sinh học” tự nhiên giúp ổn định môi trường ao nuôi

Trong mô hình nuôi tôm quảng canh kết hợp trồng rong biển, thay vì chỉ tận dụng diện tích ao để nuôi tôm, người dân bố trí từ 40–50 bè rong biển trên mặt nước nhằm khai thác hiệu quả khoảng không của ao nuôi. Cách làm này không ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của tôm mà còn phát huy vai trò như một hệ thống xử lý nước sinh học ngay trong ao. Rong biển có khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng dư thừa và hợp chất chứa nitơ phát sinh trong quá trình nuôi, đặc biệt là amoniac (NH₃/NH₄⁺) và nitrat (NO₃⁻). Đây là những yếu tố dễ làm suy giảm chất lượng nước, gây ô nhiễm môi trường ao và làm tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh nếu tích tụ trong thời gian dài. Đồng thời, rong biển còn góp phần cân bằng hệ sinh thái ao nuôi, hạn chế hiện tượng phú dưỡng và cải thiện hàm lượng oxy hòa tan trong nước. Với vai trò như một “bộ lọc sinh học” tự nhiên, rong biển giúp ổn định các chỉ tiêu môi trường, giảm lượng chất hữu cơ lắng đọng và hạn chế sự hình thành các khí độc như H₂S, NH₃ ở tầng đáy ao. Nhờ đó, người nuôi giảm đáng kể tần suất sử dụng hóa chất và chế phẩm xử lý môi trường, góp phần tiết kiệm chi phí sản xuất và hướng đến quy trình nuôi an toàn, thân thiện với môi trường.

Khi môi trường nước được duy trì ổn định, tôm có điều kiện sinh trưởng thuận lợi hơn, tăng khả năng bắt mồi, nâng cao sức đề kháng và giảm nguy cơ mắc các bệnh phổ biến trong suốt vụ nuôi. Đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp mô hình nuôi tôm kết hợp trồng rong biển mang lại hiệu quả bền vững cả về năng suất, chi phí và chất lượng sản phẩm. Không chỉ góp phần cải thiện chất lượng môi trường nước, các bè rong biển còn tạo nên một hệ sinh thái tự nhiên ngay trong ao nuôi. Rong biển là nơi cư trú và phát triển của nhiều loài sinh vật phù du, tảo có lợi và vi sinh vật có ích, hình thành nguồn thức ăn tự nhiên giàu dinh dưỡng cho tôm. Đồng thời, hệ thống rong biển cũng tạo không gian trú ẩn, giúp tôm giảm căng thẳng, thích nghi tốt hơn với những biến động của môi trường và góp phần nâng cao tỷ lệ sống trong suốt vụ nuôi. Bên cạnh những lợi ích về mặt sinh thái, việc ứng dụng rong biển trong ao nuôi còn giúp giảm đáng kể nhu cầu sử dụng hóa chất xử lý môi trường và hạn chế lạm dụng kháng sinh. Nhờ đó, người nuôi có thể cắt giảm chi phí sản xuất, giảm tác động đến môi trường và từng bước xây dựng quy trình nuôi tôm an toàn sinh học. Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững, mô hình nuôi tôm kết hợp trồng rong biển được đánh giá là hướng đi nhiều triển vọng. Không chỉ nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm, mô hình còn góp phần gia tăng sức cạnh tranh của ngành tôm Việt Nam trên thị trường quốc tế, đồng thời phù hợp với xu hướng phát triển thủy sản xanh, tuần hoàn và thân thiện với môi trường. 

Tăng thêm 50–60 triệu đồng mỗi năm, mở ra hướng phát triển bền vững

Bên cạnh những lợi ích về môi trường và sinh thái, mô hình trồng rong biển trên ao nuôi tôm còn mang lại giá trị kinh tế rõ rệt. Thay vì chỉ dựa vào nguồn thu từ tôm, người nuôi có thêm một sản phẩm thương mại từ chính diện tích mặt nước sẵn có. Theo tính toán, mỗi tháng người nuôi có thể thu về khoảng 4–5 triệu đồng, tương đương 50–60 triệu đồng mỗi năm, từ việc thu hoạch và bán rong biển, trong khi chi phí đầu tư và chăm sóc tương đối thấp.

Sau khi thu hoạch, rong biển được các doanh nghiệp thu mua để chế biến thành nguyên liệu phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi và nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng khác. Việc tận dụng nguồn sinh khối này không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên mà còn góp phần hình thành chuỗi sản xuất tuần hoàn, gia tăng giá trị cho ngành nông nghiệp và giảm thiểu lượng phụ phẩm bị lãng phí.

Không dừng lại ở lợi ích kinh tế, rong biển còn được xem là nguồn nguyên liệu có tiềm năng đóng góp vào mục tiêu phát triển xanh. Theo nhiều nghiên cứu, mỗi tấn thức ăn chăn nuôi có sử dụng nguyên liệu từ rong biển có thể giúp giảm khoảng 2,5 tấn khí thải carbon so với việc sử dụng một số nguyên liệu truyền thống. Điều này cho thấy việc phát triển mô hình nuôi tôm kết hợp trồng rong biển không chỉ mang lại thu nhập ổn định cho người nuôi mà còn góp phần thực hiện mục tiêu giảm phát thải, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và nâng cao tính bền vững cho ngành thủy sản. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu ngày càng cao của thị trường về các sản phẩm thủy sản thân thiện với môi trường, mô hình nuôi tôm kết hợp trồng rong biển được đánh giá là hướng đi giàu tiềm năng. Sự kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế, lợi ích môi trường và giá trị xã hội không chỉ giúp người nuôi nâng cao thu nhập mà còn góp phần xây dựng ngành tôm phát triển theo hướng xanh, bền vững và có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước cũng như quốc tế.

Theo thông tin từ đơn vị triển khai, đến nay mô hình nuôi tôm kết hợp trồng rong biển đã được áp dụng trên hơn 100 héc-ta diện tích nuôi tôm và đang tiếp tục được mở rộng lên quy mô hàng nghìn héc-ta trong thời gian tới. Những kết quả bước đầu cho thấy mô hình không chỉ mang lại hiệu quả về môi trường mà còn tạo giá trị kinh tế thiết thực, mở ra hướng phát triển mới cho nghề nuôi tôm theo hướng xanh và bền vững. Theo các chuyên gia, đây là mô hình tiêu biểu của nông nghiệp tuần hoàn, khi cùng một diện tích sản xuất có thể đồng thời tạo ra nhiều giá trị. Rong biển đóng vai trò như một hệ thống xử lý môi trường sinh học, góp phần cải thiện chất lượng nước, giảm chi phí quản lý ao nuôi và hạn chế nguy cơ phát sinh dịch bệnh. Đồng thời, việc thu hoạch rong biển tạo thêm nguồn thu ổn định, giúp người nuôi đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế và giảm thiểu rủi ro do biến động của thị trường hoặc điều kiện thời tiết. Trong bối cảnh ngành tôm Việt Nam đang đẩy mạnh chuyển đổi sang mô hình sản xuất phát thải thấp, đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm và phát triển bền vững của thị trường quốc tế, việc kết hợp trồng rong biển trên mặt ao nuôi được đánh giá là một giải pháp mang lại “giá trị kép”. Mô hình vừa góp phần cải thiện hệ sinh thái ao nuôi, giảm phát

Nguồn: Nguoinuoitom.vn

Bài viết liên quan

Trung Quốc vẫn là thị trường chủ lực để xuất khẩu tôm Việt Nam tăng...

27 Th7 2026
Xuất khẩu tôm Việt Nam đang ghi nhận tín hiệu tích cực khi lấy lại đà tăng trưởng sau giai đoạn nhiều biến...

Xuất khẩu thủy sản nửa cuối năm: Nhiều dư địa tăng tốc

25 Th7 2026
Ngành thủy sản nỗ lực hướng đến mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 12 tỷ USD. Ảnh: Chu Khôi Theo Hiệp hội Chế...

Cà Mau siết chặt kiểm soát tôm giống, giảm rủi ro dịch bệnh từ đầu ...

23 Th7 2026
Với 418.000 ha nuôi tôm và mục tiêu sản lượng đạt 587 nghìn tấn trong năm 2026, Cà Mau đang tăng cường kiểm...

Nuôi tôm thời số hóa: Nhật ký điện tử mở lối chuyển đổi số trong qu...

17 Th7 2026
Những cuốn sổ ghi chép thủ công, các hộ nuôi tôm tại Hợp tác xã Hoà Nghĩa (phường Khánh Hòa, TP. Cần Thơ)...

Nuôi tôm siêu thâm canh khởi sắc, Đầm Dơi vượt chỉ tiêu ngay nửa đầ...

14 Th7 2026
Đầm Dơi đang trở thành một trong những điểm sáng của ngành tôm Cà Mau khi nhiều chỉ tiêu sản xuất đã hoàn...