Phát triển nuôi tôm dưới tán rừng ngập mặn: Nâng tầm giá trị bằng chứng nhận quốc tế 

13 Th8 2026

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp và các tiêu chuẩn về phát triển bền vững trở thành “tấm vé thông hành” vào thị trường quốc tế, mô hình nuôi tôm dưới tán rừng ngập mặn đang khẳng định vai trò là một hướng đi đầy triển vọng của ngành thủy sản Việt Nam. Không chỉ giúp duy trì hệ sinh thái tự nhiên, giảm tác động đến môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu, mô hình này còn mang lại giá trị kinh tế ổn định cho người nuôi. Đặc biệt, việc đáp ứng các tiêu chuẩn chứng nhận sinh thái quốc tế đang mở ra cơ hội nâng cao giá trị sản phẩm, gia tăng sức cạnh tranh và đưa tôm Việt chinh phục những thị trường xuất khẩu khó tính trên thế giới. 

Tôm được nuôi trong hệ sinh thái tự nhiên

Mô hình nuôi tôm dưới tán rừng ngập mặn từ lâu đã được đánh giá là một phương thức canh tác sinh thái, khai thác hiệu quả những lợi thế mà tự nhiên mang lại. Trong mô hình này, rừng ngập mặn không chỉ là “lá phổi xanh” của vùng ven biển mà còn đóng vai trò như một hệ thống bảo vệ và xử lý môi trường tự nhiên. Tán rừng giúp giảm tác động của gió bão, hạn chế xói lở, trong khi hệ thống rễ cây hấp thụ chất hữu cơ dư thừa, lọc nước và ổn định nền đáy ao, góp phần duy trì môi trường sống thuận lợi cho tôm phát triển.

Được sinh trưởng trong điều kiện gần với tự nhiên, tôm có sức đề kháng tốt hơn, tỷ lệ mắc bệnh thấp và hạn chế phụ thuộc vào thức ăn công nghiệp, hóa chất hay kháng sinh. Nhờ đó, người nuôi giảm đáng kể chi phí sản xuất, đồng thời tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm và xu hướng tiêu dùng xanh trên thị trường. Mô hình này không chỉ mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân mà còn góp phần bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế gắn với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị tích cực, mô hình tôm – rừng vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình quản lý và duy trì tính bền vững. Khi giá trị kinh tế từ con tôm ngày càng gia tăng, một số hộ nuôi có xu hướng mở rộng sản xuất vượt quá khả năng chịu tải của hệ sinh thái nhằm gia tăng sản lượng trong thời gian ngắn.

Trên thực tế, đã xuất hiện tình trạng tự ý chặt phá rừng ngập mặn để mở rộng diện tích mặt nước, hoặc tăng mật độ thả nuôi vượt ngưỡng khuyến cáo, khiến mô hình dần chuyển sang hình thức bán thâm canh. Những thay đổi này làm suy giảm diện tích rừng, phá vỡ mối quan hệ cộng sinh giữa rừng và ao nuôi. Khi “lá chắn xanh” không còn đủ khả năng phát huy vai trò điều hòa môi trường, chất lượng nước và nền đáy ao sẽ nhanh chóng suy giảm, kéo theo nguy cơ bùng phát dịch bệnh, ô nhiễm nguồn nước và gia tăng rủi ro kinh tế cho người nuôi. Về lâu dài, điều này còn ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái ven biển và làm giảm giá trị bền vững vốn là lợi thế nổi bật của mô hình nuôi tôm dưới tán rừng ngập mặn.

Tấm thị thực từ các chứng nhận sinh thái quốc tế

Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng ưu tiên những sản phẩm được sản xuất theo hướng bền vững và thân thiện với môi trường, việc đạt được các chứng nhận sinh thái quốc tế không còn là lợi thế, mà đã trở thành điều kiện quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của ngành tôm Việt Nam. Đây được xem là “tấm hộ chiếu” giúp con tôm Việt khẳng định chất lượng, gia tăng giá trị và mở rộng cơ hội tiếp cận những thị trường khó tính như châu Âu, Bắc Mỹ hay Nhật Bản.

Những năm gần đây, nhiều vùng nuôi tôm dưới tán rừng ngập mặn đã từng bước đáp ứng các bộ tiêu chuẩn quốc tế như Naturland, Organic Bio và ASC. Để được cấp các chứng nhận này, người nuôi phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về bảo vệ môi trường và quản lý sản xuất, trong đó duy trì tỷ lệ che phủ rừng từ 40–60%, không sử dụng hóa chất cấm hoặc kháng sinh trong quá trình nuôi, đồng thời thực hiện đầy đủ các quy định về an toàn lao động, phúc lợi xã hội và khả năng truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Việc đáp ứng các tiêu chuẩn sinh thái không chỉ góp phần bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn mà còn nâng cao giá trị thương mại của sản phẩm. Thực tế cho thấy, tôm đạt chứng nhận sinh thái thường được thị trường chấp nhận với mức giá cao hơn 10–20% so với tôm nuôi thông thường. Khoản giá trị gia tăng này không chỉ mang lại thu nhập tốt hơn cho người nuôi mà còn tạo động lực để cộng đồng tiếp tục gìn giữ diện tích rừng, phát triển sản xuất theo hướng xanh và bền vững.

Có thể nói, khi rừng được bảo vệ, môi trường được gìn giữ và sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, mô hình nuôi tôm dưới tán rừng ngập mặn không chỉ tạo ra lợi ích kinh tế trước mắt mà còn mở ra hướng phát triển lâu dài cho ngành thủy sản Việt Nam. Đây chính là con đường để con tôm Việt nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế, đồng thời khẳng định cam kết của Việt Nam đối với mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh và kinh tế tuần hoàn.

Liên kết “4 nhà” – Động lực nhân rộng mô hình nuôi tôm sinh thái

Để mô hình nuôi tôm dưới tán rừng ngập mặn phát huy hiệu quả và được nhân rộng trên cả nước, cần có sự chung tay của bốn chủ thể: Nhà nước, Nhà khoa học, Nhà doanh nghiệp và Nhà nông. Đây không chỉ là giải pháp phát triển ngành tôm theo hướng xanh mà còn là nền tảng để xây dựng chuỗi giá trị thủy sản bền vững, đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.

Trước hết, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và tăng cường công tác quản lý nhằm bảo vệ diện tích rừng ngập mặn, kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất và xử lý nghiêm các hành vi xâm hại tài nguyên rừng. Song song đó, cần có các chính sách hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn vốn, chương trình chứng nhận sinh thái và các mô hình sản xuất thân thiện với môi trường.

Về phía Nhà khoa học, việc nghiên cứu, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật và hướng dẫn quy trình nuôi phù hợp với từng vùng sinh thái sẽ giúp người nuôi nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái rừng ngập mặn. Công tác đào tạo, tập huấn cũng cần được đẩy mạnh để người dân hiểu rõ giá trị lâu dài của mô hình nuôi sinh thái, thay đổi tư duy từ chạy theo sản lượng sang phát triển bền vững.

Đối với Nhà doanh nghiệp, vai trò không chỉ dừng lại ở việc thu mua hay chế biến sản phẩm mà còn là cầu nối đưa tôm sinh thái Việt Nam đến với thị trường quốc tế. Việc liên kết với các hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ nuôi thông qua hợp đồng bao tiêu, hỗ trợ chi phí chứng nhận, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu sẽ tạo động lực để người dân yên tâm duy trì mô hình sản xuất theo các tiêu chuẩn sinh thái.

Cuối cùng, Nhà nông là chủ thể trực tiếp quyết định sự thành công của mô hình. Việc tuân thủ nghiêm ngặt quy trình nuôi, bảo vệ diện tích rừng ngập mặn, không lạm dụng hóa chất và duy trì cân bằng sinh thái chính là yếu tố cốt lõi để tạo nên những sản phẩm tôm chất lượng cao, đủ điều kiện chinh phục các thị trường khó tính.

Từ một phương thức canh tác truyền thống, nuôi tôm dưới tán rừng ngập mặn đang từng bước trở thành biểu tượng của nền nông nghiệp xanh, hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo tồn thiên nhiên. Khi sự liên kết giữa “4 nhà” được phát huy hiệu quả, cùng với việc mở rộng các chứng nhận sinh thái quốc tế, mô hình này sẽ không chỉ nâng cao giá trị con tôm Việt mà còn góp phần bảo vệ những cánh rừng ngập mặn quý giá, tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển và khẳng định vị thế của thủy sản Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Nguồn: Nguoinuoitom.vn

Bài viết liên quan

Thu tỉa tôm thẻ kích cỡ 100 con/kg đúng kỹ thuật: Giải pháp giúp gi...

04 Th8 2026
Khi ao nuôi đạt ngưỡng sinh khối cực đại, thu tỉa tôm từng phần đúng kỹ thuật không chỉ giúp giảm áp...

Trồng rong biển trong ao nuôi tôm: Giải pháp sinh thái nâng cao chấ...

31 Th7 2026
Kết hợp trồng rong biển trên mặt ao nuôi tôm quảng canh đang trở thành mô hình sản xuất mang lại nhiều giá...

Trung Quốc vẫn là thị trường chủ lực để xuất khẩu tôm Việt Nam tăng...

27 Th7 2026
Xuất khẩu tôm Việt Nam đang ghi nhận tín hiệu tích cực khi lấy lại đà tăng trưởng sau giai đoạn nhiều biến...

Xuất khẩu thủy sản nửa cuối năm: Nhiều dư địa tăng tốc

25 Th7 2026
Ngành thủy sản nỗ lực hướng đến mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 12 tỷ USD. Ảnh: Chu Khôi Theo Hiệp hội Chế...

Cà Mau siết chặt kiểm soát tôm giống, giảm rủi ro dịch bệnh từ đầu ...

23 Th7 2026
Với 418.000 ha nuôi tôm và mục tiêu sản lượng đạt 587 nghìn tấn trong năm 2026, Cà Mau đang tăng cường kiểm...