Cuộc cách mạng công nghệ: Dẫn dắt ngành tôm Việt vượt qua “bẫy chi phí”

26 Th9 2026

Trước rủi ro dịch bệnh và rào cản xuất khẩu ngày càng khắt khe, ngàng tôm Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi mô hình sản xuất. Việc ứng dụng các giải pháp sinh học hiện đại – từ công nghệ RNA phòng dịch bệnh đến chọn giống đơn tính – đang trở thành giải pháp then chốt giúp nâng cao năng suất, tối ưu chi phí và khẳng định vị thế tôm Việt trên thị trường quốc tế.

Ứng dụng công nghệ sinh học là động lực then chốt giúp ngành tôm Việt Nam tối ưu chi phí

Bài toán rủi ro và yêu cầu chuyển đổi

Trong nhiều thập kỷ qua, tôm luôn giữ vị thế là một trong những mặt hàng chủ lực đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Dù vậy, sự phát triển của ngành tôm vẫn đối mặt với vô vàn rủi ro biến động do dịch bệnh bùng phát liên tục, chất lượng con giống thiếu đồng đều cùng chi phí thức ăn chiếm tỷ trọng quá cao trong giá thành sản xuất. Những hạn chế này không chỉ bào mòn biên lợi nhuận của người nuôi lẫn doanh nghiệp chế biến mà còn làm giảm sức cạnh tranh chung trên thị trường quốc tế.

Bước sang giai đoạn mới, các thị trường tiêu thụ khó tính ngày càng nâng cao các hàng rào kỹ thuật, đòi hỏi khắt khe về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn môi trường và tính minh bạch của nguồn gốc sản phẩm. Trong bối cảnh đó, phương thức nuôi tôm dựa nhiều vào kinh nghiệm và may rủi đã hoàn toàn chạm trần.

Tại hội thảo trực tuyến chuyên đề “Giải pháp Israel – nâng tầm ngành thủy sản Việt Nam”, diễn ra ngày 25/8/2026, do các đối tác Israel và Việt Nam phối hợp tổ chức, các chuyên gia quốc tế và trong nước đã thống nhất nhận định rằng, ngành tôm Việt Nam bắt buộc phải trải qua một cuộc cách mạng về công nghệ để vượt qua “bẫy chi phí”. Điểm cốt lõi của cuộc cách mạng này chính là chuyển dịch trọng tâm từ việc xử lý hậu quả bị động sang chủ động kiểm soát, dự báo và can thiệp sâu vào quy trình phát triển của vật nuôi thông qua các công nghệ sinh học hiện đại.

Công nghệ RNA kiểm soát dịch bệnh

Một trong những rào cản lớn nhất đối với tính ổn định của nghề nuôi tôm hiện nay chính là các tác nhân gây bệnh nguy hiểm như virus gây hội chứng đốm trắng (WSSV), vi bào tử trùng (EHP) hay virus gây hội chứng hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan tiêu hóa (IHHNV). Những dịch bệnh này không chỉ khiến tôm chết hàng loạt mà còn làm suy giảm nghiêm trọng hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR), khiến tôm chậm lớn, còi cọc và lệch kích cỡ nghiêm trọng.

Để giải quyết tận gốc rủi ro này, giải pháp ứng dụng công nghệ can thiệp RNA (RNAi) do công ty công nghệ sinh học ViAqua Therapeutics (Israel) nghiên cứu đã mở ra một hướng đi mang tính bước ngoặt. Khác với việc sử dụng kháng sinh hay hóa chất xử lý vốn dễ tồn dư độc tố và vi phạm quy định xuất khẩu, công nghệ RNAi vận hành dựa trên cơ chế sinh học tự nhiên của vật nuôi.

Quy trình phát triển công nghệ này bắt đầu từ việc các nhà khoa học thiết kế các chuỗi RNA đặc hiệu riêng cho từng loại mầm bệnh. Sau đó, các chuỗi RNA được nhân bản thông qua quá trình lên men sinh học, được bao bọc bằng công thức chất mang bảo vệ đặc biệt và chế biến thành dạng bột khô. Điểm tiện lợi của giải pháp là có thể tích hợp trực tiếp vào quy trình sản xuất thức ăn thương phẩm hoặc phủ ngoài hạt thức ăn ngay tại trang trại mà không làm thay đổi thói quen cho ăn hay yêu cầu quy trình vận hành phức tạp.

Khi tôm tiêu thụ thức ăn, các chuỗi RNA sẽ giải phóng bên trong tế bào và kích hoạt cơ chế tự vệ nội bào nhằm nhận diện, phân hủy chính xác RNA của mầm bệnh, qua đó ngăn chặn sự nhân lên của virus hay ký sinh trùng ngay từ giai đoạn xâm nhập ban đầu.

Các số liệu thử nghiệm độc lập đã minh chứng cho hiệu quả vượt trội của phương pháp này. Trong các thử nghiệm với virus gây hội chứng đốm trắng và IHHNV, nhóm tôm được sử dụng giải pháp RNA đạt tỷ lệ sống tương đối từ 70-80%. Đối với vi bào tử trùng EHP, kết quả thử nghiệm năm 2024 ghi nhận mức tăng trưởng trọng lượng cao hơn 32%, hệ số FCR giảm 11% và độ biến động kích thước trong đàn giảm tới 52%. Việc chuyển đổi từ tư duy chữa bệnh bị động sang chủ động can thiệp sớm giúp người nuôi kiểm soát rủi ro triệt để và bảo toàn năng suất mùa vụ.

Công nghệ tôm đơn tính tối ưu năng suất

Bên cạnh mối lo dịch bệnh, tình trạng lệch kích cỡ trong cùng một ao nuôi cũng là điểm nghẽn lớn làm suy giảm giá trị thương phẩm, đặc biệt đối với loài tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii). Do sự phân hóa xã hội tự nhiên, tôm đực thường chia thành nhiều nhóm với tốc độ tăng trưởng và mức độ hung hăng khác nhau, dẫn đến hiện tượng tranh giành thức ăn, tôm lớn lấn ép tôm nhỏ, gây hao hụt và khiến sản phẩm thu hoạch thiếu đồng nhất.

Để giải quyết triệt để thách thức trên, công nghệ sinh học sản xuất tôm đơn tính được nghiên cứu bởi phòng thí nghiệm của Giáo sư Amir Sagi (Đại học Ben-Gurion, Israel) đã mang đến giải pháp thiết kế cấu trúc quần thể tôm ngay từ khâu sản xuất con giống. Công nghệ này can thiệp vào “công tắc phân tử IAG” ở giai đoạn hậu ấu trùng sớm để điều khiển quá trình biệt hóa giới tính của tôm.

Đối với mô hình toàn tôm đực, các nhà nghiên cứu sử dụng kỹ thuật RNAi đảo ngược giới tính tôm đực ZZ ở giai đoạn sớm để tạo ra tôm cái giả mang kiểu gen ZZ mà không làm biến đổi gen (non-GMO). Khi cho tôm cái giả ZZ phối giống với tôm đực ZZ bình thường, toàn bộ thế hệ con sinh ra đều là tôm đực ZZ. Mô hình này hướng tới mục tiêu tạo ra những cá thể tôm đạt kích thước lớn từ 60-100 gram, phục vụ cho các trang trại nuôi mật độ thấp và hướng đến phân khúc thị trường cao cấp.

Ở chiều ngược lại, mô hình toàn tôm cái được phát triển dựa trên việc sử dụng tôm cái siêu mái WW phối giống với tôm đực ZZ để tạo ra thế hệ con 100% tôm cái WZ. Do tôm cái có tập tính hiền lành, không cạnh tranh lãnh thổ và tăng trưởng rất đồng đều, người nuôi có thể chủ động tăng mật độ thả nuôi lên gấp nhiều lần.

So sánh các mô hình nuôi tôm theo giới tính

Chỉ tiêu so sánhMô hình nuôi hỗn hợpMô hình toàn tôm đựcMô hình toàn tôm cái
Đặc điểm quần thểPhân hóa kích thước lớn, cạnh tranh cao Kích thước lớn, nuôi mật độ thấp Độ đồng đều rất cao, nuôi mật độ cao 
Năng suất trung bình~ 1.200 kg/ha ~ 2.000 kg/ha ~ 3.000 kg/ha  
Tỷ lệ tăng năng suấtGốc chuẩnTăng ~65% Tăng ~250% (gấp 2,5 lần)  
Ưu điểm chế biếnTốn chi phí phân loại, hao hụt cao Phù hợp ăn tươi, nguyên con Cực kỳ thuận lợi cho đóng gói, chế biến sâu 

Thử nghiệm thực địa kéo dài ba năm liên tiếp tại Thái Lan trên gần 500.000 con tôm đã chứng minh tính triệt để của công nghệ khi 100% tôm thu hoạch đều là tôm cái. Năng suất của mô hình toàn tôm cái đạt trung bình khoảng 3.000 kg/ha, cao gấp 2,5 lần so với mô hình nuôi hỗn hợp thông thường và cao hơn 50% so với mô hình toàn tôm đực. Độ đồng đều tuyệt đối của sản phẩm thu hoạch giúp doanh nghiệp tiết kiệm đáng kể chi phí phân loại, sơ chế và đáp ứng chính xác các quy chuẩn đóng gói xuất khẩu.

Mở hướng phát triển bền vững cho tôm Việt

Những đột phá từ công nghệ RNAi phòng bệnh đến kỹ thuật sản xuất tôm đơn tính đang vẽ nên một bức tranh hoàn toàn mới cho ngành nuôi tôm. Tuy nhiên, để đưa những thành tựu này từ phòng thí nghiệm ra áp dụng rộng rãi tại các vùng nuôi trọng điểm của Việt Nam, sự phối hợp đồng bộ giữa các bên liên quan là yếu tố quyết định.

Trọng tâm hàng đầu hiện nay là đẩy mạnh các chương trình thử nghiệm thực địa tại những vùng sinh thái khác nhau để đánh giá chính xác tính thích ứng, hiệu quả kinh tế và hoàn thiện hồ sơ pháp lý cho các công nghệ mới. Bên cạnh đó, việc xây dựng chuỗi liên kết chặt chẽ giữa nhà cung cấp công nghệ, người nuôi tôm và doanh nghiệp chế biến sẽ giúp tối ưu hóa chi phí đầu tư, đảm bảo nguồn nguyên liệu đầu ra chuẩn hóa về chất lượng.

Song song với đó, Việt Nam cần tăng cường hợp tác quốc tế với các quốc gia có nền nông nghiệp công nghệ cao như Israel nhằm tiếp thu, chuyển giao và tiến tới chủ động công nghệ trong nước. Việc ứng dụng đồng bộ các giải pháp sinh học tiên tiến sẽ là bệ phóng vững chắc giúp ngành tôm Việt Nam giảm thiểu rủi ro, nâng cao giá trị gia tăng và khẳng định vị thế dẫn đầu trên thị trường quốc tế.

Nguồn: Nguoinuoitom.vn

Bài viết liên quan

Giá tôm nguyên liệu ổn định, doanh nghiệp tăng đầu tư chế biến sâu

23 Th9 2026
Giá tôm nguyên liệu tại nhiều địa phương trong nửa đầu tháng 9/2026 không biến động lớn so với đầu tháng...

Thủy sản Việt Nam mở rộng dư địa tăng trưởng tại thị trường Trung Q...

19 Th9 2026
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực trong 7 tháng đầu năm 2026, với sản lượng...

MỞ RỘNG MÔ HÌNH RAS, HƯỚNG TỚI NUÔI THỦY SẢN BỀN VỮNG

17 Th9 2026
Ngày 10/9, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Cần Thơ phối hợp với Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế...

Xuất khẩu tôm bứt phá: “Cánh cửa vàng” từ thị trường EFTA 

11 Th9 2026
Trong tháng 6/2026, xuất khẩu tôm Việt Nam đạt khoảng 458 triệu USD, tăng 24% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 6...

Thủ phủ tôm Cà Mau: Đặt mục tiêu sản lượng 731.000 tấn vào năm 2030

09 Th9 2026
Để thực hiện hóa mục tiêu sản lượng 731.000 tấn vào năm 2030, tỉnh Cà Mau tập trung triển khai đồng bộ 7...